Tài
Mệnh Tương Đố
“Video
17“
“Khua
róc rách thuyền quyên rũ lụa
Bến
Trữ La một đóa xuân kiều
Mây
bay sầm sập mưa chiều
Bâng
khuâng gió thoảng mĩ miều ái ân“
Tiếng
đàn của nàng Kiều nghe như tiếng nước chảy róc rách
của dòng suối nơi mà nàng Tây Thi rũ lụa giặt vải ở
thôn Trữ La ngày xưa, rồi lại sầm sập như cơn mưa
chiều xối sả. Làn gió thoảng làm bâng khuâng ngây ngất
tâm hồn người nghe. Đây là tiếng đàn gợi tình hoàng
gọi phượng con chim mái gọi con chim trống ngược lại
với Tư Mã Tương Như Phượng cầu hoàng để trêu ghẹo
nàng Trác Văn Quân. Kiều lại thảy luôn ngón đàn điêu
luyện nghe càng buồn thảm. Nói như cụ Nguyễn Du về tài
nghệ chơi đàn của Kiều mà cụ đã để lộ ra ngay từ
chương đầu của tác phẩm thơ lục bát Đoạn Trường
Tân Thanh:
“
Cung thương làu bậc ngũ âm,“
Nghề
riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc
nhà tay lựa nên xoang,
Một
thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.”
Thúy
Kiều đêm hôm trong phòng riêng với Kim Trọng sự việc
diễn ra trái với lẽ thường, đúng ra phải vui, xao xuyến
hồi hộp đê mê ngây ngất, nhưng đằng này Kiều lại
gảy luôn bài tủ hồng nhan bạc mệnh đoạn trường tang
thương là điềm gở báo trước một cuộc chia ly đầy
đau khổ bi ai cho cả hai người.
“Người
ngồi đó bần thần ngơ ngẩn
Khi
cúi đầu thơ thẩn mày chau
Sương
sa má ướt ràu ràu
Đắng
cay tủi hận nhạt màu phấn hương
Trong
lòng đã vấn vương thểu não
Vuốt
dây đàn thành thạo ngón tay
Liêu
xiêu tình đã ngấm say
Lom
khom đứng dậy dạn dày tấc gang…“
Trong
cái buồn và cái say lẫn lộn làm cho toàn thân chàng Kim
Trọng phải cứng đờ ra, nhất là các bộ phận nhạy
cảm. Chàng Kim Trọng phải lom khom đứng dậy là hợp với
tâm sinh lý của con người. Tôi mô tả không sai. Kiều
rất hiểu điều đó và nhắc nhở khéo chàng Kim nên gìn
giữ lễ tiết thể diện, chúng ta quen nhau chưa lâu chỉ
có vài tháng thôi từ buổi tiết thanh minh đi tảo mộ
hóa vàng. Thực tế gặp nhau chỉ có một đôi lần.
“Kiều
dừng lại dịu dàng thỏ thẻ
Nhắc
nhở chàng chim sẻ rào thưa
Vườn
hồng lá thắm đong đưa
Dập
dìu ong bướm say xưa quá đà“
Kiều
dừng đàn thấy Kim Trọng mon men đứng sát lưng mình có
ý muốn cọ kẹ nên nàng nói thẳng lúc này là hoàn cảnh
chim sẻ đang đói ăn khát mồi, chẳng ai sức đâu mà
canh giữ vườn đuổi chim đi. Cơn dục vọng của người
đàn ông đang sôi sục, bệnh Tề Tuyên nổi lên ầm ầm.
Lá thắm ví như nàng Kiều lại đang đong đưa thướt tha
mềm mại, gió nồm nam vi vu thổi theo tiếng đàn ngân nga
trầm bổng. vậy chàng với thiếp chớ như lũ ong bướm
tầm thường kia dập dìu say sưa quá đà…
“Đã
vào bậc nho gia tinh khiết
Đạo
tòng phu trinh tiết làm đầu
Bố
kinh lân lý qua cầu
Ra
tuồng trên bộc trong dâu ích gì?”
Kim
Trọng là thần tượng của nàng Kiều về người quân tử
nho gia. Còn nàng là con gái có nhà viên ngoại trưởng giả
bậc trung có giáo dục nề nếp theo đạo tòng phu lấy
chữ trinh tiết làm đâu trong đêm tân hôn sau khi uống
rượu giao bôi, kính bái tổ tiên trời đất.
Bố
kinh là chữ Hán Việt, bố là vải, kinh là một loại cây
mọc thành cụm, có hoa màu nhạt sắc tía. Đặc điểm
cành và cây rất cứng. Ngày xưa con gái nhà lành thường
dùng nó làm trâm cài tóc. Ý Kiều theo lân lý, luân lý
đạo đức nếu Trọng coi Kiều là người vợ chính thức
yêu thương trọn đời như hạng bố kinh ngày xưa, chứ
không phải nhân tình nhân ngãi chơi bời qua ngày. Trên
bộc trong dâu là theo tích xưa ở nước Vệ thời xuân
thu trai gái thường tụ tập trên bờ sông Bộc lẩn vào
các bãi dâu để hát hò, gian díu làm chuyên dâm ô trụy
lạc.
Đỗ
Mục, một thi hào đời Đường, nhân một đêm ghé thuyền
trên bến Tần Hoài, gần một quán rượu. Đêm đã khuya,
mặt sông nổi sương mù như khói tỏa . Bãi cát là một
rừng dâu xanh ngắt. Trong quán, khách còn đang say sưa ăn
uống, bên cạnh những ả buôn son bán phấn hát xướng.
Lắng nghe giọng hát réo rắt bên kia sông đưa sang, trai
gái đang say sưa làm tình. Đỗ Mục tức cảnh sinh tình.
Quốc Ấn dịch là:
“ Khói
bay, nước lạnh, khói trăng pha,
Thuyền
đậu sông Tần cạnh Tửu gia.
Hận
nước gái buôn không biết rõ,
Cách
sông còn hát "Hậu Đình Hoa".
Nguyên
văn chữ Hán Việt:
Yên
lung hàn thủy, nguyệt lung sa,
Dạ
bạc Tần hoài cận tửu gia.
Thương
nữ bất tri vong quốc hận,
Cách
giang do xướng "Hậu Đình Hoa".
Nguyễn
Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc cũng có câu:
“ Vườn
Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,
Gác
Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoa.
Thừa
ân một giấc canh tà,
Tờ
mờ nét ngọc, lặp lòe vẻ son“
Còn
Lu Hà tôi trong tập Hồng Nhan Bạc Mệnh có câu:
“Vườn
Tây thánh thót mây trôi
Gác
Lâm Xuân nhạc mấy hồi Đình Hoa
Dập
dìu yếm thắm quần thoa
Chí
tôn vời vợi một tòa thiên hương
Nghìn
vàng sen ngó nõn nường
Đố
ai mua được một trường mộng xuân
Uốn
cong nhựa chảy ra dần
Cho
lăn lóc đá bần thần mới thôi“
Kiều
rất thông minh, nghĩ mình là phận gái thuyền quyên phải
biết giữ gìn phẩm giá, mặc dù trong lòng nàng yêu Kim
Trọng biết chừng nào. Không nên vì quá cả nể mà để
cho chàng lấn tới. Tình yêu sớm nóng bỏng và cũng nhanh
nguội lạnh. Nàng có nhắc đến các tích xưa:
“Con
người ấy tình si như thế
Nỡ
bỏ đi một vẻ yêu kiều
Chán
chường gió thoảng mây chiều
Để
ai vò võ cô liêu một mình?
Trương
Quân Thụy phụ tình bạc nghĩa
Thôi
Oanh Oanh đau khổ sầu ly
Sá
gì nửa mảnh nhung y
Hoa
nài liễu ép xin suy xét cùng“
Câu
chuyện tình duyên éo le giữa nàng Thôi Oanh Oanh và chàng
thư sinh Trương Quân Thụy trong tập sách Tây Sương Ký
nổi tiếng của Vương Thực Phủ bên Tàu, lưu truyền
trong dân gian được diễn thành kịch tuồng chèo hát nói.
Thôi Oanh Oanh là tiểu thư xinh đẹp, con gái của một vị
tướng quốc. Khi cha chết, hai mẹ con nàng về quê, nhưng
gặp loạn đành tạm lánh ở chùa Phổ Cứu, đất Bồ.
Trương Quân Thụy, một thư sinh nghèo, cha mất sớm, vãn
du sang đất Bồ chơi, khi ngoạn cảnh chùa đã gặp Oanh
Oanh. Chàng đắm đuối trước sắc đẹp của nàng bèn
tìm cách vào chùa xin trọ. Đêm đến, họ Trương ngâm
thơ tỏ tình, Oanh Oanh họa lại. Khi Tôn phu nhân làm chay
cho chồng thì Trương Quân Thụy cũng nhờ sư cụ của
chùa thêm một phần lễ làm chay cho cha mình để có dịp
gần Oanh Oanh.
Trong
khi đó có một ngã vô lại tên là Tôn Phi Hổ, cầm đầu
một băng thảo khấu đã đem quân bao vây chùa, muốn cướp
Oanh Oanh. Thôi phu nhân tuyên bố ai giải vây được chùa
sẽ gả con gái cho. Trương Quân Thụy bèn viết thư nhờ
bạn là tướng quân Đỗ Xác đem binh tiến đánh và bắt
được Tôn Phi Hổ.
Thôi
phu nhân mở tiệc ăn mừng và tiệc có mời Trương Quân
Thụy. Ai cũng tưởng là tiệc cưới, nhưng Thôi phu nhân
lật lọng nuốt trôi lời hứa hẹn, bà nói đã hứa gả
cho cháu ngoại Trịnh Hằng, nên chỉ cho phép Oanh Oanh nhận
Quân Thụy làm anh em. Cả Oanh Oanh và Trương Quân Thụy
đều rất mực đau khổ, người hầu gái của Oanh Oanh
mang tên Hồng nương cũng bất bình.
Sau
buổi tiệc, Quân Thụy ốm tương tư, Oanh Oanh sai Hồng
nương sang thăm. Khi ra về, Trương Quân Thụy viết thư
nhờ Hồng nương đưa cho Oanh Oanh nhưng Hồng nương không
dám đưa mà bỏ vào hộp nữ trang. Oanh Oanh vô tình đọc
được, rất mừng nhưng lại tự ái mắng Hồng, rồi
viết thư trả lời Trương Quân Thụy, sai Hồng nương
mang sang. Do viết khi Oanh Oanh đang giận dữ, Hồng nương
tưởng đó là thư Oanh Oanh cự tuyệt Quân Thụy nên đã
an ủi Quân Thụy hết lời. Thế nhưng, sự an ủi đó lại
càng khiến Quân Thụy tuyệt vọng. Chỉ đến khi giở thư
ra, thấy đây bài thơ Oanh Oanh hẹn chàng ở mái phía Tây
lúc trăng lên, họ Trương vui mừng liền hết bệnh.
Đêm
hôm đó như đã hẹn Quân Thụy vượt tường đến mái
Tây. Nhưng vì có Hồng theo bên cạnh nên Oanh Oanh thẹn
thùng. Nàng trở mặt mắng chàng khiến chàng ngẩn người
chẳng hiểu vì sao. Hồng nương cũng không rõ thực hay
giả vờ, ngỏ ý tố cáo Quân Thụy với Thôi phu nhân
nhưng bị Oanh Oanh ngăn lại. Về phòng, Quân Thụy lại
trở bệnh nặng. Thôi phu nhân nghe tin sai Hồng nương đến
thăm. Oanh Oanh cũng viết thư hẹn tối đến thăm. Từ đó
Oanh Oanh và Trương Quân Thụy bí mật đi lại quan hệ với
nhau như vợ chồng. Chuyện vỡ lở, Thôi phu nhân trách
mắng Hồng nương, nhưng Hồng đã dùng lý lẽ thuyết
phục phu nhân tác thành cho đôi trẻ. Bà nghe theo, nhưng
bắt Quân Thụy phải vào kinh thi hội, đỗ đạt mới cho
kết hôn. Hai người đau khổ chia tay nhau.
Quân
Thụy thi đỗ trạng nguyên, vâng lệnh triều đình lưu
lại kinh đô làm quan. Oanh Oanh vui mừng khôn xiết và mong
ước tái ngộ. Nhưng Trịnh Hằng lại phao tin Quân Thụy
đã lấy vợ khác. Thôi phu nhân định cho Trịnh Hằng
cưới Oanh Oanh, nhưng Quân Thụy về kịp, nhờ tướng
quân Đỗ Xác phân giải. Đỗ Xác đứng ra làm chủ hôn
cho Quân Thụy và Oanh Oanh. Nhiều người trong phái Khổng
Tử hủ nho chê bai Tây Sương Ký là dâm thư, họ không
thấy những áng văn tuyệt tác không kém gì Hồng Lâu
mộng của Đào Tuyết Cần. Việt Nam có chùm thơ Hai Sắc
Hoa TiGon cũng đã đi vào tình sử. Kiều quả là một bậc
nữ lưu thâm sâu điển tích văn chương. Nàng mang Truyện
Tây Sương Ký ra để khuyên nhủ Kim Trọng và chàng đã
nghe ra mà kìm nén cơn dục vọng lại.
“Sinh
nghe vâỵ thẹn thùng im lặng
Thấy
lời hay sâu lắng dễ nghe
Chàng
càng vị nể e dè
Trăm
năm giữ trọn lời thề sắt son”
24.11.2019
Lu Hà
Keine Kommentare:
Kommentar veröffentlichen